TRANG CHỦ GIỚI THIỆU TIN TỨC KHÁCH HÀNG SẢN PHẨM & DỊCH VỤ LIÊN HỆ 1:56:06 AM
Tin khuyến măi
PR (Public Relations)
Khoảnh khắc-Dấu ấn
Nâng tầm thương hiệu
Các tin khác
Lượt truy cập: 77111
Hỗ trợ








Bán máy chiếu
Khi DN quyết định chiến lược marketing của ḿnh, họ sẽ sử dụng các thông tin quảng cáo và marketing để thực hiện chiến lược đó, và slogan là một trong những cách để thực hiện chiến lược của DN.







Ngọn lửa thần

Liên kết
Khởi Thủy PR

Có nhiều tên gọi khách nhau cho chữ “PR” như Truyền thông tích hợp (Integrated Communication) . Những cái tên củ đă trở nên lững lẫy hơn như Truyền thông Tập Đoàn (Corporate Communication).

Nhiều tranh căi đang diễn ra về vai tṛ của các chức năng PR cung cấp cho các nhà thực hành một cách nh́n thích hợp về “chức năng toàn diện của PR”. Nói cách khác, ngành PR chỉ nên phục vụ cho các nhiệm vụ quản trị có liên quan đến hoạch định chiến lược. Mặt khác, nghề PR đang liên tục gặp phải những khó khăn trong việc xác định chính ḿnh. Đây là điều không có ǵ đáng ngạc nhiên khi mà các chuyên gia bất đồng vể điểm khởi thuỷ của ngành PR và định nghĩa cũng như dưng xanh cho ngành này như thế nào cho phù hợp.

Nhiều sử gia th́ cho rằng vào năm 1807 Thomas Jefferson là người đầu tiên kết hợp chữ “Public” và chữ “Relations” thành cụm từ “Public relations”. Những người khác th́ cho rằng cụm từ này được luật sư Dorman Eaton sử dụng vào năm 1882. Bất chấp những ư kiến trái ngược như thế nào, cụm từ “Public Relations” được sử dụng với ư nghĩa hiện nay bắt đầu từ năm 1897, khi nó xuất hiện trong quyển “Niên Giám Bài Văn Hay Của Ngành Đường Sắt” thuộc Hiệp Hội Ngành Đường Sắt Mỹ. Thành công thực sự của từ này có thể nói là thuộc về Ông Edward L.Berneys, mà ông Irwin Ross gọi là “Cha đẻ của ngành PR”….

Bernays chính là người đầu tiên gọi ḿnh là “Chuyên viên tư vấn PR” vào 1921. Hai năm sau, ông viết quyển sách đầu tiên về đề tài “Kết Tinh Quan Niệm Công Chúng”, và dạy khoá đầu tiên về PR tại đại học New York. Như vậy, đó là vào đầu thế kỷ thứ 20, PR đă trở thành cụm từ chính thức, và được xem là một nghề một chương tŕnh đào tạo mang tính học thuật.

Cũng như cậu của ḿnh là Ông Sigmund Freud, Bernays đă cống hiến cả cuộc đới ḿnh trong việc nghiên cứu suy nghĩ của con người. Chuyên môn của ông là tâm lư cộng đồng – hay làm thế nào để chuyển tải các quan niệm của quảng đại quần chúng tạo ra một ảnh hưởng hiệu quả và có tính xúc cảm cao.

Trong lúc ngành xă hội học c̣n đang trong thời kỳ sơ khởi, và Walter Lippmann chỉ mới bắt đầu xác định những vấn đề mà Bernays gọi là “Tư tưởng bộ lạc Mỹ” th́ Bernays tiến hành nghiên cứu tâm lư học. Hoạt động này được triển khai và kiểm chứng thông qua những lới khuyên mà ông đưa ra cho tập đoàn Procter & Gamble (P&G) giải quyết các vấn đề khủng hoảng xảy ra trong vài thập kỷ trước đây. Khi đó, P&G phải đối đầu với việc những người da đen “tẩy chay” hàng hoá của P&G... Sau khi nghiên cứu, Bernays khuyên P&G loại bỏ những yếu tố phân biệt chủng tộc trong chiến dịch quảng cáo của ḿnh, và thuê những người da đen làm công việc văn pḥng và mời những người da đen đến dự lễ khánh thành nhà máy. Ngay lập tức khủng hoảng được giải quyết và h́nh ảnh P&G được cải thiện.

Theo các chuyên gia, cách xử lư của Bernays khá khéo léo và tinh vi. Vi dụ, Ông giúp công ty bao b́ Beech-But bán thịt xông khói, nhưng không phải bằng cách đơn thuần quảng bá giới thiệu thịt xông khói. Thay vào đó, ông triển khai các chương tŕnh “đánh” vào mối quan tâm chung của người Mỹ lúc đó là – Dinh dưỡng bữa ăn sáng quan trọng như thế nào. Vào năm 1918, Bernays đă thay đổi một tiến tŕnh lịch sử bằng việc khuyến Tomas Masaryk, người sáng lập ra nước Czechoslovakia, tŕ hoăn việc công bố ngày quốc gia độc lập một ngày nhằm đạt được nhiều “bài báo” hơn.

Bernays mất vào năm 1995, thọ 103 tuổi, tin tưởng chắc chắn rằng PR c̣n hiệu quả hơn cả những ǵ một toà soạn báo thực hiện. Tuy nhiên, ông không ngừng xây dựng kế hoạch cho các sự kiện quan trọng hoặc dùng các nhân vật quan trọng để PR cho chính sự kiện. Vào năm 1924, ông giúp tổng thống Coolidge giải quyết vấn đề “h́nh ảnh xa rời nhân dân” bằng buồi ăn sáng của nhà trắng, hôm đó, Al jolson và một số diễn viên điện ảnh đă được mời. Hay như vào năm 1929, ông công bố kỷ niệm lần thứ 50 của bóng đèn diện bằng cách mời Thomas Edison thực hiện lại phát minh của ḿnh trước sự chứng kiến của tổng thống Hoover….

Mặt khác, Bernays cũng đă từ chối hỗ trợ PR cho Adolf Hitler vào năm 1933, trước khi Hitler nắm quyền lực. Tuy nhiên, Một thư tín viên của tờ Hearst bảo với Bernays rằng trong buổi phỏng vấn với Joseph Goebbels, ông này vài năm sau trở thành Bộ trưởng tuyên truyền của Hitler – Ông đọc quyển sách của Bernays xuất bản năm 1923, Propaganda, trên bàn của Nazi.

Đi t́m nguồn gốc của ngành PR

Với tất của những ảnh hưởng của ḿnh trong ngành PR, Bernays không phải là người sáng lập ra ngành PR. Thực vậy, nhiều tác giả cho rằng Bernays đă học PR trong khi phục vụ George Creel’s Committee về thông tin công cộng, nhằm mục đích là gia tăng sự ủng hộ của công chúng đối với nước Mỹ trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 1.

Ngành PR chắc chắn không chỉ do một người sáng lập mà do nhiều chuyên gia PR thực hành ở Mỹ h́nh thành như Ivy Lee được xem là chuyên gia PR thực hành theo phong cách hiện đại. Hầu hết các nỗ lực ban đầu của Lee đều là viêc công bố rộng răi “Publicity”, nhưng sau đó ông và những người cùng thời đă được gọi là trợ lư “Quan hệ báo chí” khi có khủng hoảng xảy ra. Nhiều hoạch định chiến lược và tư vấn đă phát triển trong thời kỳ Bernays.

Không nghi ngờ rằng, Ngành PR ở Mỹ phát triển nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Nhà sử học Alan R. Raucher xem đây là do điều kiện kinh tế, xă hội, chính trị của quốc gia, cũng như sức mạnh của ngành truyền thông nước đó đáp lại các viên nghiên cứu cộng đồng có thể làm tổn thương đến các ư kiến công đồng. PR thực hành cũng đă trở thành một dịch vụ xuất khẩu quan trọng, v́ các quốc gia khác nhau đă phát triển các h́nh mẫu PR thực hành khác nhau.

PR về khái niệm không xác định được một người trung tâm, đầu tiên đưa ra, quốc gia cũng như ngày thành lập bởi v́ nó tập trung vào những nỗ lực ảnh hưởng – không chi là những quan điểm mà c̣n những động thái cụ thể. Chính yếu tố này đă tạo nên những chuyên gia vĩ đại của ngành PR.

Các nhà sử học nh́n nhận PR như là một nhân tố ảnh hưởng tích cực; xem như là một cầu nối nhằm tranh thủ sự ủng hộ của công chúng về các ư tưởng, các viện nghiên cứu và con người. Mặt khác, tuy nhiên, điều này bắt buộc phải hy sinh các tự do cá nhân bởi nó theo ư chí của số đông. Dĩ nhiên, sự thoả hiệp tương tự là trung tâm để đạt đến bản chất của sự dân chủ; nhưng điều này không cho thấy được vấn đề các quan điểm cộng đồng có thể bị hiểu lầm.

PR ra đời từ khi nào?

Để hiểu rơ ngành PR, cần thiết phải xem xét những thực tế toàn cầu. Nhiều người Mỹ nghĩ rằng, PR đă phát triển từ Mỹ, và thực tế là người Mỹ đă đóng góp rất nhiều cho lư thuyết và thực hành PR.

Tuy nhiên, nhiều quốc gia và khu vực khác cũng có truyền thống lịch sử lâu dài trong hoạt động thực hành PR: chỉ là khác nhau về hỉnh thức và kỹ thuật. Van Ruler và Vercic cho rằng PR Cộng đồng Châu Âu đă tồn tại hơn một thế kỹ, điều này thể hiện qua công ty Krups thành lập bộ phận quan hệ báo chí vào 1870; Giai đoạn sơ khai của PR thực hành tại nước Anh là vào những năm 1920, và văn pḥng đầu tiên được thành lập ở Hà Lan vào đầu thế kỷ 20. Hà Lan là đất nước có hiệp hội nghề PR chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới, được thành lập vào năm 1946.

Một số chuyên gia Ả Rập cho rằng Mohammed là chuyên gia PR đầu tiên trong nền văn minh của họ, mặc dù trong thế giới Ả Rập, PR và quảng cáo đựơc sử dụng sau những năm 1930.

Có ư kiến lại cho rằng ngành PR đă được bắt đầu tại Trung Quốc cách đây hàng ngh́n năm. Anantachart cho rằng, tại Thái Lan, PR đă phát triển từ năm 1283, khi đức vua phát triển những kư tự đầu tiên của Thái. Ông thiết lập hệ thống giao tiếp hai chiều với thần dân của ḿnh bằng cách thiết lập lập một cái chuông to phía ngoài lâu đài của ḿnh. Thần dân có thể đánh chuông, và Đức vua sẽ phán xét, giúp giải quyết vấn đề của dân chúng.

Rơ ràng nhiều kỹ thuật và cách thức từ các nước trên thế giới đă triển khai trong suốt tiến tŕnh lịch sử có thể rất xa lạ với các chuyên gia PR thực hành hiện nay, nhưng trong nhiều phương cách mục tiêu và mục đích của PR vẫn không thay đổi